Huế - Thành phố có hơn 1.300 món ăn
Nói đến ăn uống xứ Huế,
người ta thường nghĩ đến lối ăn cung đình, một phong cách ẩm thực được
hình thành để phục vụ triều đình nhà Nguyễn trong hơn một thế kỷ đóng
đô ở đây. Có thể nói đó là đỉnh cao của nghệ thuật ăn uống Việt Nam
nhưng chưa hẳn đã tiêu biểu cho phong cách ăn uống của dân tộc.
Theo số liệu thống kê
gần đây, Việt Nam có khoảng 1.700 món ăn, trong đó riêng vùng đất Thừa
Thiên Huế có tới 1.300 món. Điều đó cho thấy ẩm thực Thừa Thiên Huế nói
chung và ẩm thực cung đình nói riêng rất đa dạng và phong phú. Các món
ăn cung đình không những phong phú chất dinh dưỡng, ngon miệng mà còn
được trình bày rất cầu kỳ, đẹp mắt. Từ thời Minh Mạng trở đi, vấn đề ẩm
thực trong hoàn cung bắt đầu được tổ chức quy mô và chặt chẽ. Mỗi bữa
cơm vua có tới 50 món ăn, một món ăn do một đầu bếp trong đội ngự viện
phụ trách (khoảng 50 người chuyên lo nấu ăn cho vua mỗi ngày). Đối với
các yến tiệc cung đình, vào những dịp hưng quốc, đại khách, lễ đăng
quang, lễ sinh nhật nhà vua (hoặc hoàng thái hậu, hoàng hậu, hoàn tử,
công chúa…), thiết đãi tân khoa, tiếp thần sứ nước ngoài…, các vua
triều Nguyễn thường tổ chức yến tiệc tại điện Cần Chánh. Từ thời vua
Khải Định trở đi, yến tiệc được tổ chức tại điện Kiến Trung, sau này có
lúc vua Khải Định tổ chức ở cung An Định – cung riêng của vua nằm bên
bờ sông An Cựu.
Theo sách Đại Nam hội
điển sự lệ biên soạn dưới thời nhà Nguyễn, thì Quang Lộc Tự là cơ quan
lo việc cỗ bàn của triều đình, gồm cỗ cúng trong những ngày lễ trọng
đại, cỗ yến cho các quan hay tiếp sứ thần Trung Hoa, và ban yến các cho
các vị tân khoa đỗ tiến sĩ. Cỗ bàn thường được chia thành các loại: Cỗ
hạng lớn gồm 161 phẩm vị, Cỗ ngọc soạn có 30 đĩa, Cỗ quý có 50 phẩm vị,
Cỗ điểm tâm có 12 vị. Ngoài ra còn có cỗ chay để cúng ở các chùa, hạng
nhất có 25 món, hạng hai có 20 món... Các món ăn được quy định cụ thể
và định giá tiền từng loại cỗ, vì vậy ta có thể thống kê qua tên gọi
các món ăn. Nếu như vua chúa phương Tây và Trung Hoa thường lấy săn bắn
làm thú giải trí vương giả, và sự xuất hiện của thịt thú rừng trên bàn
tiệc của các lãnh chúa vương công là chuyện thường xuyên, thì ta thấy
nổi lên một điều khác biệt là vua chúa Việt Nam ít ăn thịt thú rừng.
Thịt dã thú chỉ thấy trong cỗ cúng với số lượng rất hạn chế: hươu, lợn
rừng, công, tê tê, vịt nước, đuôi cá sấu... Hàng năm, trước ngày giỗ 12
hôm, các đội lính săn gồm 300 người và 100 con chó săn được bủa đi săn
thú rừng, tối thiểu mỗi kỳ phải săn được từ 10-20 con. Quả là một con
số khiêm tốn.
Ta còn có thể biết cách
ăn uống ở cung đình qua những sản phẩm mà triều đình quy định cho các
địa phương cúng tiến hàng năm theo mùa. Điểm lại các sản vật cung tiến
được ghi trong sách xưa, ta thấy hầu hết chỉ là những hoa quả thông
thường được trồng ở các địa phương như: dừa ở Vĩnh Long, Định Tường,
xoài Phú Yên, bòng bong Quảng Nam, cam đường Thanh Hoá, Hải Dương, vải
Hà Nội, mắm rươi Ninh Bình, Nam Định, lê Cao Bằng, Tuyên Quang. Tỉnh
phải nộp nhiều thứ nhất là Quảng Bình thì cũng chỉ là dưa hấu, bột
hoàng tinh, tương đậu, rượu dâu, thịt cửu khổng khô (ruột một thứ sò
lớn ở biển). Chẳng qua đấy là những đặc sản địa phương, có thể thu
hoạch một cách dễ dàng, không phải mất công khó nhọc lên rừng xuống
biển tìm kiếm như xưa kia người Việt phải làm để cung tiến cho triều
đình Trung Hoa.
Nói như vậy không phải
trong hoàng cung không có những món ăn cầu kỳ. Theo lời người già trong
hoàng tộc kể lại thì có một món ăn lạ là "sâu mây". Đây là một loại ấu
trùng sống trong thân cây mây mọc trên rừng. Người ta chặt mây, lấy
những con sâu đó về, đem thả vào ngọn cây mía trồng trong vườn. Con
nhộng đục thân mía để ăn. Chờ đúng ngày nhộng vừa lớn mới chẻ cây mía
ra, lấy nhộng làm thức ăn. Ngoài ra còn có một loại thức ăn được vua
chúa nhà Nguyễn ưa thích, đó là con đuông, một loại ấu trùng sống trên
ngọn cây dừa, vì vậy mang vị ngọt của cùi dừa. Muốn lấy con đuông phải
chặt cả cây dừa, chỉ những vùng trồng dừa ở miền Nam mới lấy được.
Đuông hẳn là một món ăn quý, chẳng thế mà hình ảnh và tên của nó đã
được khắc trên Cửu đỉnh trước Thái Miếu của kinh thành Huế với cái tên
"hồ da tử". Còn theo những người già kể lại thì các bữa ăn hàng ngày
của ông hoàng bà chúa trong cung không khác những bữa ăn của dân thường
là bao. Món ăn được ưa thích của mẹ vua Bảo Đại vẫn chỉ là cá bống kho,
canh cá óc mó, canh rau dại nấu với tôm...
Vào đầu thế kỷ này, một
vị phu nhân trong hoàng tộc đã ghi lại những món bà thường ăn để truyền
lại cho con cháu học theo. Tập sách mỏng có tên là Thực phổ bách thiện
giới thiệu 100 món ăn theo thể văn vần. Điều khiến ta ngạc nhiên là
những món ăn đó không khác mấy so với món ăn dân dã. Tạm làm một thống
kê thì thấy thịt thú rừng chỉ chiếm 4%, trong khi đó thịt nói chung
chiếm 17%, gia cầm chiếm 9%, tôm cá 28% chiếm tỷ lệ cao nhất. Nếu tìm
những món lạ và đắt tiền như vi cá, hải sâm, yến sào... thì chỉ có 5%.
Ngược lại những món ăn bình thường như rau dưa chiếm tỷ lệ cao là 28%
và các thứ mắm chiếm 14%.
Tuy nhiên, cái khác cơ
bản ở đây chính là cách nấu nướng sạch sẽ, thực phẩm có chọn lọc hơn và
đặc biệt là cách trình bày đẹp và tinh xảo. Nhà văn Nguyễn Tuân đã từng
nhận xét rằng người Huế ăn bằng mắt, bằng mũi trước khi ăn bằng miệng.
Tỷ dụ như các thứ rau, dưa được tỉa thành những bông hoa, rau muống ăn
sống phải chẻ nhỏ như sợi bún, bánh đậu xanh được nặn thành hình trái
cây với màu sắc như thật, chả thịt lợn kết hợp với rau củ xếp thành
hình công, phượng với tên gọi "nem công, chả phượng".
Phong cách ẩm thực cung
đình ngày nay đang được tái hiện trong những thực đơn của khách sạn và
nhà hàng ở Huế. Du khách có thể tới nhà hàng Tịnh Gia Viên của nghệ
nhân Tôn Nữ Hà để tìm lại hình ảnh của những bữa ăn cầu kỳ trong khung
cảnh vườn cây của các dinh thự xưa. Đến 15 Tống Duy Tân để chiêm ngưỡng
những bông hoa hồng, hoa cúc sống động như thật do nghệ nhân Hương Trà
làm từ bột đậu xanh. Nhưng để thưởng thức không khí đích thực của chốn
hoàng cung thì hãy tìm đến phủ đệ xưa của cung An Định. Nơi đây, hình
ảnh buổi dạ yến xưa được làm sống lại, khiến du khách như được sống
trong khung cảnh thực của một đêm mùa thu xứ Huế, nhưng lại mang không
khí hư ảo của một thời xa xưa.
Theo Trần Duy Hòa (Du Lịch Huế)